Bạn đang theo học ngành kế toán và có nhiều thắc mắc
về thuế GTGT cũng như hóa đơn. Dưới đây là 5 câu hỏi từ các trường hợp cụ thể bạn
có thể tham khảo.
Câu 1: Hỏi:
Tại khoản 2, Điều 14 Thông tư số 219/2013/TT-BTC
ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định: Thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch
vụ (kể cả tài sản cố định) sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT thì chỉ được khấu trừ số thuế GTGT đầu
vào của hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu
thuế GTGT, khác với Luật thuế GTGT. Như vậy Doanh nghiệp áp dụng theo quy định
nào cho đúng?
Đáp:
Theo quy định tại khoản 2, Điều 14 Thông tư số
219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính: Thuế GTGT đầu vào của tài sản
cố định chỉ được khấu trừ thuế GTGT đầu vào nếu được dùng cho hoạt động chịu
thuế GTGT.
Nội dung này cũng đã được quy định cụ thể tại Nghị định
số 209/2013/NĐ-CP ngày 18/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn
thi hành một số điều Luật thuế Giá trị gia tăng.
Câu 2: Hỏi: Quyết toán thuế TNCN:
Ông A làm việc tại Công ty từ tháng 11 đến tháng
12/2013 sang tháng 01/2014 nghỉ việc, không ủy quyền cho Công ty quyết toán thuế.
Xin hỏi trường hợp này quyết toán năm 2013 như thế nào?
Đáp:
+ Tại điểm b.2, khoản 1, Điều 25 Thông tư số
111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính quy định: Đối với cá nhân cư
trú hợp đồng lao động từ ba (03) tháng trở lên nhưng nghỉ việc làm trước khi kết
thúc hợp đồng lao động thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn thực hiện khấu trừ
thuế theo Biểu lũy tiến từng phần.
+ Trường hợp Ông A không ủy quyền quyết toán thuế
thì Công ty xuất chứng từ khấu trừ thuế để ông A tự quyết toán.
Câu 3: Hỏi:
Doanh nghiệp chúng tôi thanh toán tiền mua hàng bằng
chứng từ ủy nhiệm chi đối với hàng hóa trên 20 triệu đồng, nhưng những chứng từ
UNC thanh toán tiền hàng hóa là các số tài khoản tiền vay, mỗi lần DN chứng tôi
nhận nợ vay thì ngân hàng cấp cho DN chúng tôi 1 khế uớc vay là 1 số tài khoản
mới và từ tài khoản này DN chúng tôi chi tiền cho người bán. Vậy các số tài khoản
này DN chúng tôi có bắt buộc đăng ký với cơ quan thuế theo mẫu 08-MST hay không
và các chứng từ thanh toán tiền hàng trên có đúng quy định của Luật thuế không?
Đáp:
+ Tại Điều 9 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày
06/11/2013 của Bộ Tài chính quy định: Doanh nghiệp trong quá trình sản xuất
kinh doanh, khi có sự thay đổi, bổ sung số tài khoản tại các ngân hàng thuơng mại,
tổ chức tín dụng thì phải thông báo cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý trong thời
hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày phát sinh sự thay đổi tại tờ khai điều chỉnh, bổ
sung thông tin đăng ký theo mẫu 08-MST ban hành kèm theo Thông tư này. Do đó, đối
với các số tài khoản mới được các ngân hàng thuơng mại, tổ chức tín dụng cấp để
thực hiện các giao dịch thanh toán thì DN phải thông báo cho cơ quan thuế biết.
+ Tại khoản 3, Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC
ngày 31/12/2013 của Bộ Tài chính quy định: Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được
hiểu là chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài
khoản của bên bán, ủy nhiệm chi cũng là 01 hình thức thanh toán qua ngân hàng.
Câu 4: Hỏi:
Những doanh nghiệp được ưu đãi thuế miễn thuế TNDN
trong 5 năm, đối với những chi phí phát sinh trong SXKD nhưng DN không khai hoặc
không đưa vào chi phí. Doanh nghiệp có vi phạm luật gì không?
Đáp: Doanh nghiệp bị xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực kế toán theo Nghị định số 39/2011/NĐ-CP ngày 26/5/2011 của Chính
phủ.
Câu 5: Hỏi:
Giấy báo có của ngân hàng không viết số tiền bằng
chữ, do yêu cầu của Cục Thuế phải có số tiền bằng chữ, ngân hàng bổ sung thêm
thì không đúng với ngày của giấy báo có ban đầu. Đây là lỗi của ngân hàng, Công
ty có được sử dụng chứng từ này để khấu trừ, hoàn thuế hay không?
Đáp:
Đề nghị Công ty liên hệ với ngân hàng điều chỉnh lỗi
trên chứng từ. Giấy báo có của ngân hàng sau khi điều chỉnh và có xác nhận của
ngân hàng thì vẫn được chấp nhận.
.jpg)